CHA ĐỐC – CHÚ SÁU – ANH HAI – bài viết của Phó Tế HUÂN (USA)

CHA ĐỐC  –  CHÚ SÁU  –  ANH HAI  

 Pt. Huấn

                                           

Tên của các nhân vật từ trái sang phải:

Hàng trên có 10 người: Thày Phạm Cảnh Thủy ( 68, đã chết ), Cha Nguyễn Công Từ ( 66 ), Cha Lê Thu Thâu ( 68 ), Thày Lê Quang Phúc ( 68 ), Thày Lê Hiển (68 ), Thày Nguyễn Hữu Dương ( 68, đã chết ), Phó Tế Vĩnh viễn Trần Công Huấn ( 67 ), Cha Nguyễn Kim Sơn ( 67 ), Thày Phạm Khắc Khôi ( 68 ), Cha Lã Văn Cường ( 68 ).

Hàng dưới có 8 người: Cha Võ Quang Thanh ( 68 ), Thày Nguyễn Văn Cương ( 68 ), Cha Nguyễn Huy Điệp ( 67 ), Cha Giám Đốc Huỳnh Thanh Khương ( đã chết ), Cha Quản lí Nguyễn Văn Kính, Cha Đặng Văn Trung ( 68 ), Thày Ngô Văn Đức ( 68 ), Thày Nguyễn Đình Nhung ( 68 ).

__________________________________________________________________________________   

Tháng các Đẳng Linh hồn – Bài viết để tưởng nhớ

Cha Giám đốc ĐCVLS Huỳnh Thanh Khương

CCS Phạm Cảnh Thủy –  CCS Nguyễn Hữu Dươn

Lời mở đầu

Khoảng trung tuần tháng Tám năm 1975, không hiểu bằng phương tiện nào mà anh em chúng tôi đang ở Sài gòn đã nhận được tin từ TGM rằng Đức Cha gọi các thày về Qui nhơn tựu trường để chuẩn bị nhập học. Thế là tôi và Nguyễn Huy Điệp người bạn đồng hành qua 16 năm ở các Chủng viện, khăn gói quả mướp lên đường mà lòng trí ngổn ngang. Thực tế bấy giờ mọi người vẫn còn chưa hết nỗi bàng hoàng cùng với quê hương dân tộc vừa trải qua cơn biến động lịch sử.

Ngày Tựu Trường 1975

Về đến Qui nhơn thì những dấu chấm hỏi vẽ ra suốt cuộc hành trình xe đò gần 15 tiếng đồng hồ được trả lời một cách khá rõ ràng. Đức Cha Huỳnh Đông Các đã phân chia như sau: Hai lớp 69 và 70 nhỏ nhất nhập học ở TCV Qui nhơn dưới quyền cha GĐ Huỳnh Đắc Nhì (RIP). Lớp 68 vừa đúng năm mặc áo dòng tập trung về TCV Làng sông dưới quyền cha GĐ Huỳnh Thanh Khương và cha QL Nguyễn Văn Kính. Kế đến là lớp chúng tôi 67 cùng với lớp 66 và 65 là ba lớp đang học Triết tại ĐCV Hoà bình, Đà nẵng được gửi tới Giáo xứ Phú thạnh có cha sở Nguyễn Tri Phương chịu trách nhiệm. Còn lại các lớp đàn anh khác từ lớp 64 về trước đang học Thần ở ĐCV Xuân bích, Huế thì trụ trì ở trường Vi nhân với cha GĐ Nguyễn Soạn. Thực ra Phú thạnh chỉ là nơi tạm trú, điạ chỉ chính thức chúng tôi được sai đến là Long mỹ cách thị trấn Phú tài đi ngược lên mạn núi hướng Tây-Nam gần 1 tiếng đồng hồ xe đạp. Ngày xuất hành từ TGM anh em chúng tôi leo lên chiếc xe vận tải mui trần chở giường tủ bàn ghế, nồi niêu xoong chảo cùng vài tạ gạo và mắm muối lên đường. Điểm danh lúc đó lớp 65 có một mình Lê Quang Nhu. Lớp 66 có Huỳnh Xuân Thượng, Nguyễn Tấn Hùng, Văn Quang Trúc và Trần Văn Tâm (hiện là linh mục của Nha trang). Nguyễn Văn Toàn (biệt danh cha linh hướng) đến sau vài tuần. Lớp 67 có Nguyễn Huy Điệp, Phùng Khắc Thảo, Hồ Bá Tánh (RIP) và tôi. Nguyễn Kim Sơn, Trịnh Văn Hồng (Madame), Huỳnh Anh Dũng và Trần Thanh Long (Bà Khiết)  đang giúp xứ. Sơn và Hồng cũng đến Long mỹ sau vài tuần. Lớp 67 còn có Cao Văn Luyện. Vì là người họ Cao nên đã cao bay xa …chạy sang Mỹ từ tháng Tư năm đó. Đây là danh sách 9 anh em học ở ĐCV Hòa bình, Đà nẵng. Hai anh học GHHV Đà lạt là Huỳnh Đăng Khoa (RIP) và Võ Đức Thiện. Tổng cộng 11 người của lớp 67 chúng tôi tốt nghiệp TCV Qui nhơn mùa hè năm 1974.

Trung Tâm Long mỹ

Bây giờ xin trở lại với đoạn đường gian khổ Long mỹ. Nói là gian khổ thì không ngoa chút nào. Qui nhơn là thành phố nhà cao cửa rộng phố xá thênh thang. Phú tài là thị trấn ít ra cũng có điện đóm hàng quán chợ búa đông người. Còn Long mỹ chỉ là một hình thức khu kinh tế mới. Nghỉ ngơi ở nhà xứ Phú thạnh được ba hôm để làm quen với phong thổ, chúng tôi được lệnh gồng gánh tiến lên núi rừng Long mỹ. Thì ra đây là đất nhà chung sở hữu không biết từ thuở nào, có cả hàng chục mẫu tây cò bay thẳng cánh mà vì chiến cuộc nên bỏ hoang lâu đời, bây giờ là lúc thuận tiện để canh tác làm rẫy trồng khoai trồng mì. Thật là một kế hoạch hợp tình và hợp cảnh. Một mặt làm kế sinh nhai, mặt khác thực hành khẩu hiệu lao động là vinh quang. Buổi tối đầu tiên chúng tôi ngủ trong môt cái láng che tạm mái tôn cho khỏi sương gió. Ngoài trừ căn nhà của các thày được dựng nên sau này nhờ bàn tay thợ mộc của chú Chiến chú Hưng (người đã đóng hàng trăm cái tủ, bàn học, bàn thờ nhà nguyện TCV Qui nhơn v.v…), và xa xa về hướng sông Hà-nhe quanh năm nước cạn là căn nhà của các sơ MTG, còn lại nhìn chung quanh chẳng thấy một nóc gia nào của người dân địa phương. Nghĩ lại mà khiếp. Cọp beo thì không có nhưng heo rừng dấu vết cày ủi các luống khoai mì thì có đầy. May mà chưa anh nào bị heo rừng hỏi thăm. Sống cảnh núi rừng cùng cực kỳ cục như vậy được đúng ba tháng thì Đức Cha thấy không ổn sau những lần lái xe con cóc lên rẫy thăm nom chúng tôi. Thế là lệnh mới được ban hành và cũng là Tin Mừng cho người muốn nghe: – Bỏ Long Mỹ, rút toàn bộ về TCV Làng sông sáp nhập với lớp 68-. Người xưa thường nói: Cùng Tất Biến. Nếu chúng tôi còn tiếp tục ở lại Long mỹ thì không biết sẽ xảy ra những gì. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Lại còn phải tính chuyện về lâu về dài là việc học hành thì không biết các đấng bề trên sắp đặt làm sao. Nhưng điều quan trọng hơn cả đó là sự chuyển đổi đột ngột cách sống mới trong thời đại mới mà vì thiếu chuẩn bị cho nên lý tưởng linh mục của chúng tôi đã bị thử thách nặng nề. Sự thật là để đánh đổi cho được cái quyết định về Làng sông thì vài anh lớp 66 đã phải ra đi không hẹn ngày trở lại. Và… Biến Tất Thông.

ĐCV Làng sông

Dịp lễ Giáng sinh 1975, trừ Lê Quang Nhu được Đức Cha gọi về trung tâm Vi nhân gia nhập vào lớp các thày Thần học, còn lại tất cả chúng tôi tiến về Làng sông để tiếp tục học Triết. Đợt này lớp 66 có thêm Nguyễn Sao đang giúp xứ Kim châu, Nguyễn Công Từ (hiện là linh mục của Long xuyên) giúp xứ Gò thị và lớp 67 có Huỳnh Anh Dũng giúp xứ Tân dinh cũng tề tựu về đây. Như vậy phải kể chính xác là trường Làng sông sau khi bỏ trống từ cuộc di cư các chú về Qui nhơn vào năm 1964, từ năm 1975 cho tới năm 1983 các thày thuộc 3 lớp 66, 67 và 68 đã thực thụ sinh hoạt và tu học tại TCV Làng sông, bây giờ chính thức có tên là ĐCV Làng sông với cái mộc đỏ của cha Giám đốc Huỳnh Thanh Khương. Cùng thời gian này Đức Cha thành lập một trung tâm mới ở tỉnh phía nam của Giáo phận là trung tâm Mằng lăng có các cha giáo lão thành là cha Nguyễn Xuân Văn và cha Trương Đắc Cần phụ trách. Mằng lăng là đất Địa linh Nhân kiệt vì có Người Chứng Thứ Nhất Anrê Phú yên. Cho nên nhóm được thành lập sau cùng lại xem ra thành công nhất bởi vì đã phát sinh một Giám mục Nguyễn Văn Bản, một cha Hạt trưởng Trương Đình Hiền, và cha Quản lý Giáo phận Võ Đình Đệ. Hẩm hiu một mình Hồ Bá Tánh của lớp 67 chúng tôi được Đức Cha ưu tuyển cho đi Mằng lăng thì lại mất sớm. Requiescat In Pace. Trở về cuộc sống ở Làng sông với nề nếp hẳn hoi, có nhà nguyện nhà cơm phòng ngủ phòng học đâu vào đấy, chúng tôi rất an lòng. Thời khóa biểu của TCV ngày xưa bây giờ được lập lại thành thời khóa biểu ĐCV. Có khác một điều là mỗi năm hai vụ lúa và bờ cá thì quanh năm, cứ vậy các học sĩ bổn tràng tha hồ mà Laborare et Orare. Ngoài giờ lao động là thời gian học tập, kinh nguyện và huấn đức. Hết Triết học đến Thần học. Cua cáy quay ronéo từ TCVQN cung cấp đầy đủ không thiếu môn nào. Các cha giáo từ thành phố Qui nhơn thay phiên đến dạy. Có giáo án và học trình, có bài thi và sổ điểm. Cứ thế tám năm ròng rã qua đi lúc nào không biết. Bây giờ ngồi đếm lại đời mình tôi chợt nhận ra một điều thú vị. Ngôi trường Làng sông là mái nhà duy nhất tôi đã sống ở đó tám năm liên tục không thay đổi. Không một mái nhà nào mà tôi được trú ngụ lâu dài như thế tính từ lúc chào đời cho đến khi ra nước ngoài, kể cả nhà cha mẹ tôi thường di chuyển đó đây tùy theo công vụ. Như thế Làng sông thật là ý nghĩa đối với tôi. Và cũng chính tại mái trường Chủng viện Làng sông này tôi đã được sống chung với ba đấng, hay nói cho đúng hơn là được cùng nhau trau dồi học vấn và tập tành nhân đức bên cạnh Anh Hai và Chú Sáu dưới sự hướng dẫn của Cha Đốc, trong ước nguyện mai này trở thành người thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo. Bây giờ cha Đốc, chú Sáu và anh Hai không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa. Một nén hương lòng xin kính cẩn đốt lên để tưởng niệm những người quá cố.

CHA ĐỐC

Đó là tên gọi tắt một cách thân mật cha Giám đốc Huỳnh Thanh Khương quí mến của chúng tôi. Hôm nay tôi viết bài này để tưởng nhớ về ngài, để nhớ về một thời gian và một không gian đầy ắp những kỷ niệm thân thương không bao giờ quên trong đời của một CCSLSQN. Ngược dòng thời gian, lần đầu tiên tôi gặp cha Đốc   vào mùa hè 1967. Lúc đó thày Khương và thày Thăm đi chấm thi giáo lý tại nhà thờ Phú thạnh do cha Khổng Văn Giám làm cha sở. Hình ảnh hai ông thày sáng sủa quí phái khảo bài giáo lý các em thiếu nhi đã tạo nên trong tôi những ấn tượng đẹp về chiếc áo dòng đen. Sau khi chịu chức, cha Khương dạy học ở Trung học Vi nhân là trưòng Lasan cũ gần Khu VI. Bấy giờ tôi đang học lớp 11, 12 ở TCV và không biết nhiều về ngài. Cho đến lúc anh em chúng tôi di tản về Làng sông dịp lễ Giáng sinh 1975 tôi mới thực sự gần gũi và thân thiện với cha Khương và cha Kính. Bây giờ khi hồi tưởng về cha Đốc tôi vẫn còn nhớ những hình ảnh êm đềm ở Làng sông. Nhớ nhất là những trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn. Sau bữa cơm chiều, chúng tôi gồm cả hai cha Khương Kính cùng đi bách bộ từng nhóm 5,3 người truyện trò rôm rả một cách thanh bình. Thường thường chúng tôi đi qua đi lại trước sân trường giữa hai hàng sao chỗ tượng thánh Giuse cho tiêu cơm trước giờ lần chuỗi đọc kinh tối đi ngủ. Đôi khi cao hứng cha Đốc rủ đi xa hơn ra ngoài cổng chính có chữ MARIA DUCE bách bộ qua lại trên con đường đất khoảng giữa từ cổng Nhà thương tới quán bà Hai nơi chúng tôi mua thuốc rê mỗi ngày…Và lần cuối cùng tôi gặp cha Đốc vào mùa hè 2002 tại Nhà thờ cha Nguyễn Kim Sơn cùng lớp tôi đang làm cha sở ở Savannah, Georgia. Cha Sơn rủ tôi xuống chơi để cuộc hội ngộ tay ba với cha Đốc du lịch Hoa kỳ được tăng phần thú vị, có cả cha Lê Kim Ánh đang du học Pháp cùng tham dự. Quả thực niềm vui hội ngộ dù lớn hay nhỏ của những người xuất thân từ Làng sông Qui nhơn đặc biệt không thể tả, chỉ những ai tham dự mới cảm nghiệm được. Những ngày này cha con anh em chúng tôi quên hết hiện tại quên cả tương lai để chỉ sống với một quá khứ vàng son ngọc ngà. Ban ngày cha Sơn đưa chúng tôi đi thắng cảnh hết Savannah rồi tới Atlanta, thủ phủ của tiểu bang Georgia. Đi tham quan Trung tâm Truyền hình CNN nổi tiếng thế giới, Bản doanh hãng Coca Cola lớn nhất nước Mỹ, Khu vực lịch sử Martin Luther King v.v.. Ban ngày đi chơi ban tối về ngồi bàn ăn nói chuyện đến 1, 2 giờ sáng. Đó lả những hình ảnh cuối cùng trong đời giữa tôi và cha Đốc. Cho đến một hôm cha Sơn gọi phone báo tin: Cha Khương chết rồi! Sao biết? Cha Tước nói. Vậy là thật! Tôi lặng người một hồi lâu. Nhớ lại những lời cuối cùng trước khi chia tay ở Savannah, cha Đốc nói với tôi một điều mà mấy năm sau nghĩ lại tôi biết rằng ngài nói rất thật chỉ vì quí mến tôi và quí mến những kỷ niệm Làng sông: “mai mốt cậu nghỉ hưu thì về Làng sông ở chung với bọn mình”. Tôi không bao giờ quên lời đề nghị ấy dù biết điều mơ ước ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Cha Đốc qua đời tại một bệnh viện ở Singapore tháng Giêng năm 2005. Ở đây tôi không muốn nhắc lại diễn biến sự ra đi đột ngột của ngài e rằng làm mất vui cái “khung trời mùa hạ” mà tôi đang cống hiến các bạn. Chỉ một biệt hiệu “bon papa” mà anh em chủng sinh và ngay cả các linh mục bạn bè của ngài cũng ưu ái gọi tên ấy thì phải biết cá tính của ngài tốt lành là dường nào. Một người được mọi người thương mến ngay khi còn sống chắc hẳn đã là một bước thành công lớn trên đàng nhân đức. Cha Đốc qua đời lúc không còn ai gọi ngài là cha Đốc bởi khi đó ngài đã làm Tổng Đại Diện nên mọi người ở Qui nhơn gọi ngài bằng cái tên mới cha Tổng.

Con Chó Minou    –      Các thày ở Làng sông sau năm 1975 ai cũng biết cha Khương nuôi một con chó nhật lùn màu trắng đốm vàng rất dễ thương tên là Minou. Ngài thương con chó Minou lắm. Cái cảnh người đi tu đơn độc mà nuôi chó mèo thì thương chúng như thương con. Biết cha Đốc thương con Minou nên các thày thường hay chọc ghẹo. Những lúc bực mình vì biết các thày chọc con Minou là có ý ghẹo mình thì ngài thường rán gượng cười miệng lẩm bẩm: “các cậu quá tệ!”. Hai chữ quá tệ làm chúng tôi càng tức cười hơn; và như thế cái ông thày chọc con Minou cảm thấy khoái chí vô cùng. Bỗng một hôm tôi đang ở trong phòng nghe tiếng con chó Minou sủa inh ỏi một cách bất thường có vẻ đau đớn. Chúng tôi từ các phòng riêng chạy túa lên lầu chỗ phòng cha Đốc thì thấy con chó đang lăn lộn dữ dội dưới nền nhà mắt trợn trừng. Cha Khương đứng nhìn đau khổ lắm mà không biết làm sao để cứu con chó. Chưa đầy tiếng đồng hồ sau con Minou chết. Tôi khẽ hỏi ngài: Sao vậy? Tuy xót xa nhưng cha Đốc vẫn thản nhiên trả lời: Nó bị trúng độc! Nói xong ngài lặng lẽ về phòng lấy chìa khoá rồi xuống lầu dắt chiếc Honda đi ra cổng mà chúng tôi không biết ngài đi đâu. Thường lệ ngài luôn cho các thày biết nơi ngài đi để có gì chúng tôi còn biết chỗ mà tìm. Thế là thừa lệnh cha Quản lý Nguyễn Văn Kính, ông thày nào tôi không nhớ tên đã vui vẻ vác con Minou xuống thẳng nhà bếp. Cái thời 79, 80 cả nước đang chịu nạn thiếu lương thực “khoái ăn sang”, ăn độn mệt nghỉ. Gạo lúa còn khan hiếm huống chi chất đạm trong thịt bất kể là loại thịt gì lại càng hiếm hơn. Hôm đó chẳng phải lễ lạc bỗng dưng chúng tôi được ăn thịt Cờ Tây. Lúc cha Đốc về mọi người bảo nhau không được nhắc gì tới con Minou nữa, có ý để tôn trọng và thông cảm nỗi đau của ngài. Vậy mà vẫn có anh chàng ngứa miệng: thịt con Minou ngon hơn là thịt con Pissy. Cha Đốc nghe được liền quay mặt đi chỗ khác miệng lẩm bẩm: “các cậu quá tệ! “. Lần này thì không ai dám cười, bởi vì nếu cười trong hoàn cảnh này thì thật sự là quá tệ!  Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu trong trường hợp nào con Minou bị trúng độc.

CHÚ SÁU

Người được gọi bằng cái tên Chú Sáu trong bài này là thày Phạm Cảnh Thủy. Thày Thủy là con thứ sáu trong một gia đình tương đối bề thế ở bên Nại tức họ Nại là một họ lẻ của nhà thờ Tân dinh, cách trường Làng sông khoảng ba cây số về hướng đầm Thị nại. Tôi không biết ai khởi đầu gọi tên chú Sáu nhưng các thày và cả hai cha Khương Kính đều gọi Thủy bằng cái tên ấy.  Hôm nay gần 40 năm sau, cái tên chú Sáu vẫn còn in trong tâm trí tôi mỗi khi nhớ về Thủy. Trước 75 thày Thủy tu học ở Chủng viện Lâm bích, Nha trang. Sau tháng Tư 75 thì xin gia nhập Qui nhơn nên được Đức cha gửi về Làng sông bổ sung vào danh sách các thày lớp 68 học Triết năm I. Thày Thủy có họ hàng phía ngoại với ĐC Huỳnh Đông Các sao đó và là cháu ruột gọi cha An cha sở Nam Bình (năm 75)  bằng cậu. Kể ra thày thuộc hạng COCC nhưng không vì thế mà thày khác anh em chúng tôi. Ai chưa biết mặt thày Thủy thì coi lại bộ DVD Hội ngộ Làng sông 2006 ở phần Chầu Thánh Thể tại nhà nguyện Làng sông do cha Nguyễn Văn Khôi (bây giờ là Giám mục phó) chủ sự. Thủy giúp chầu quì bên tay phải cha Khôi.

Bờ Cá         –        Dân chúng sống quanh trường Làng sông đặc biệt là dưới thôn Bình thái nơi có Bờ cá của nhà chung, rất thân quen với thày Thủy vì thày là người điạ phương và lại phụ trách bờ cá chức vụ Trưởng Bờ. Chính thày đã dạy chúng tôi cách thức chèo xõng, đặt trủ (một loại lưới bắt tôm cá) hay thả lưới trong bờ. Với cái Bờ cá này chúng tôi đã đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt và cả…máu nữa để giữ gìn tài sản của Giáo phận và duy trì Ơn gọi của chúng tôi. Tôi nói máu là như thế này. Có một lần làm công tác đắp bờ vì bờ cá thường hay bị sụt lở sau những cơn lũ lụt lớn và hôm đó tôi được phân công đi chặt bổi là những nhánh cây mắm mọc chung quanh bờ để làm độn đắp đất vào chỗ bờ bị lở. Tôi chặt cành mắm hăng say quá hay là tôi chặt một cách thờ ơ đầu óc nghĩ ngợi viển vông nên đã vô ý chặt vào tay mình chỗ ngón cái làm máu tuôn xối xả. Khi chặt cành thì tay trái níu cho cành cong vòng xuống tay phải cầm rựa chặt. Chỗ phải hạ nhát rựa và chỗ bàn tay trái của tôi nắm cành rất gần nhau chỉ cách chừng 5 phân. Các bạn cứ thử tưởng tượng một nhát rựa thay vì nhắm vào cành mắm thì lại phập xuống bàn tay khốn khổ của tôi. Tá hỏa tam tinh. Giòng máu chảy đầm. Tôi quăng rựa chỉ còn biết dùng bàn tay phải nắm thật chặt cổ bàn tay trái để chận bớt lượng máu thất thoát. Thày Thủy thấy vậy vội chạy về chòi bốc một nắm thuốc rê rịt vào vết thương để cầm máu. Thày Điệp thấy tôi chóng mặt xây xẩm thì tình nguyện bỏ dở công tác để dẫn độ tôi về trường. Vết thẹo vẫn còn đây và sẽ theo tôi đến cuối đời. Tôi nhìn thẹo thì nhớ bờ cá, nhớ bờ cá thì lại nghĩ đến thày Thủy, một người siêng năng làm việc nhanh nhẹn lúc nào cũng cười tươi. Có một điều không ai nói ra nhưng cả nhóm chúng tôi ở Làng sông đều đồng ý là Thủy có công lớn trong việc giúp anh em thích nghi với hoàn cảnh mới, đặc biệt ở Bờ cá. Thời gian đó tôi rất khâm phục Thủy và có một suy nghĩ mơ hồ rằng nếu lấy lao động làm tiêu chuẩn để đánh giá ơn gọi thì Thủy là mẫu người lý tưởng, còn tôi thì thuộc loại …” ông mạt lắm ông à!”. Ai học ở TCVQN thì biết người nào thường nói câu này. Ngoài cá tính vui vẻ và cần cù, chú Sáu rất bình dân giản dị nếu không muốn nói là nhà quê mặc dù cả bọn tôi đều đang sống ở nhà quê rặt. Đây là câu chuyện dẫn chứng. Tôi không nói quá, câu chuyện này được nghe kể đi kể lại đến mấy chục lần trong suốt tám năm sống ở Làng sông, những anh em cùng lớp 67 làm chứng cho tôi điều đó.

Ông Làm Vườn  –        Người kể chuyện là thày Đặng Văn Trung lớp 68, hiện đang là cha sở một Giáo xứ vùng Cái Sắn, Giáo phận Long Xuyên. Thày Trung kể rằng: ngày đầu tiên xách vali tựu trường Làng sông, bước vào cổng trường hôm đó vắng hoe không một bóng người. Đang còn ngơ ngác trước tượng đài thánh Giuse không biết tìm cha Đốc hay cha Quản lý ở đâu để trình diện thì một người vác cuốc đi ra. ThàyTrung nhắm tướng mạo tuổi tác và cách ăn mặc của ông này thì đoán chừng là người làm vườn hay cũng có thể là người được các cha nhờ trông coi nhà trường từ trước 75. Thày Trung mừng quá có người để hỏi thăm: Chú cho tôi hỏi có cha Khương hay cha Kính ở nhà không?  Ông kia lịch sự đáp: Thày cứ đi thẳng vào sẽ gặp nhà nguyện, nhìn bên tay phải thấy cầu thang thì lên lầu đi ra phía trước là phòng cha Giám đốc, phòng phía sau là của cha Quản lý. Theo chỉ dẫn của người làm vườn thày Trung đã gặp chào các cha. Buổi chiều đến giờ cơm thày Trung lại thấy ông làm vườn xớ rớ vào nhà cơm ngồi ăn cùng bàn với mình. Hóa ra là thày Thủy. Khi thuật lại câu chuyên sơ kiến này thày Trung có ý nói là thày Thủy trông già và khắc khổ chẳng có dáng vẻ của một học sĩ bổn tràng. Cái điểm đáng kể ở đây là Thủy đã khiêm tốn không tự giới thiệu mình cũng là ông thày chứ không phải người xa lạ.

Năm 2005 nhân chuyến du lịch Hoa kỳ đầu tiên của cha Điệp chúng tôi rủ nhau xuống Savannah thăm cha Sơn. Trong những câu chuyện kể về Làng sông ba đứa chúng tôi nhớ lại từng khuôn mặt của các bạn bè. Khi đề cập đến hoàn cảnh của chú Sáu cha Sơn có nhã ý muốn làm mai một cô trong xứ của ngài cho Thủy. Chúng tôi tự nghĩ nếu chuyện mai mối thành công thì ngoài việc cha Sơn được cái đầu heo, chú Sáu vừa được đi Mỹ vừa làm phúc giúp cho một người không phải hát bài Kyrie Eleison. Thật là nhất cử lưỡng tiện.Thế nhưng người tính không bằng trời tính. Chẳng bao lâu sau cuôc Hội ngộ Về nguồn 2006, chú Sáu đã về nhà Cha.

ANH HAI

Chiều hôm đó đi làm về tôi có thói quen ngồi ghế sofa trước màn hình TV xem tin tức thời sự trong ngày. Chuông điện thoại ở bàn kế bên reo từng hồi. Liếc nhìn thấy số điện thoại lạ tôi định không trả lời nhưng rồi cũng nhấc máy. Đầu giây bên kia là tiếng của Nguyễn Đình Nhung lớp 68 ở Maryland chậm rãi: Huấn hả, anh Hai Dương bên Cali chắc là không xong. Mình mới gọi phone về Việt nam báo tin bác Từ liệu xin visa gấp sang thăm Dương lần cuối và để làm lễ An táng. Tôi thở dài chẳng nói gì nhiều vì đã biết tin của Dương từ lâu. Nhung Từ và Dương là bộ ba rất thân thiết từ thuở Làng sông. Gần 40 năm sau mà tình bạn vẫn keo sơn thật đáng ngưỡng mộ.Trước khi gác máy tôi hỏi: Chừng nào lễ An táng? Nhung đáp: Dương chưa chết mà! Tôi biết mình lỡ lời… Đấy là nguyên văn cuộc nói chuyện giữa tôi và Nhung vài ngày trước khi anh Hai Dương về nhà Cha tháng Chín 2011.

Thánh Dương     –        Sau khi hung tín CCS Nguyễn Hữu Dương qua đời được thông báo trên hộp thư điện tử của Hội Taru thì đã có rất nhiều lời chia buồn được đăng trên mạng trong đó tôi để ý nhất là lời của anh Nguyễn Đình Sang. Anh Sang đại diện CCS vùng San Jose, Cali là điạ phương nơi Dương sinh sống đã nhắc lại một chút kỷ niệm. Anh em sinh hoạt với nhau một cách thân tình đến mức độ mọi người trong nhóm đã đặt cho Dương một tên mới làThánh Dương. Tôi hiểu ngay anh em gọi là thánh bởi vì bản tính của Dương tốt lành quá, tốt như một vị thánh. Cám ơn anh Sang vì hai chữ Thánh Dương đã nói thay cho tất cả những gì tôi muốn viết về Dương trong bài này. Tôi vẫn còn nhớ thật rõ nét hình ảnh của thày Dương trong giờ nguyện gẫm mỗi buổi sáng hay giờ Viếng Chúa mỗi buổi chiều ở Làng sông, Dương luôn luôn là người cuối cùng bước ra khỏi nhà nguyện. Tôi biết Dương có một sức mạnh nội tâm phi thường, hơn tôi và hơn cả những anh em đồng môn khác. Không dám làm công việc xét đoán nhưng nghĩ rằng nếu không thực sự yêu mến Chúa Giêsu Thánh thể thì không ai có thể quì hay ngồi chiêm niệm lâu giờ trước Nhà Tạm vắng vẻ một mình. Hình ảnh này không phải một tháng một năm mà kéo dài trong nhiều năm như vậy. Đó là nhận xét chân thật của riêng tôi về anh Hai qua thời gian dài cùng nhau tu học ở ĐCV-LS. Nhiều lần tôi trộm nghĩ nếu anh Hai Dương đi tu dòng chiêm niệm thì thích hợp hơn. Tính tình thâm trầm ít nói, ít thích tham gia những câu chuyện thời sự của chúng tôi vào lúc rảnh rỗi sau mỗi vụ mùa ở cái nhà quê hẻo lánh này. Hình như anh Hai thích nghe hơn là thích nói. Tôi còn nhớ dịp tựu trường năm 80 hay 81 bốn năm anh em ở vùng Sài gòn-Long Khánh hẹn gặp nhau tại bến xe Miền đông chờ mua vé xe đò đi Qui nhơn. Mua vé xe đò thời đó là một cực hình. Phải có mặt từ sáng sớm xếp hàng dành chỗ đứng chờ cả mấy tiếng đồng hồ có khi cả buổi mới đến giờ quầy vé mở cửa. Đến giờ bán vé thích thì bán không thích thì quầy vẫn đóng, cái kiểu mánh lới để bán vé giá chợ đen. Chúng tôi chờ lâu quá không chịu nổi bèn bỏ hàng chỉ để một mình anh Hai tình nguyện giữ chỗ và đồ đạc cho cả bọn, còn chúng tôi đi tìm cà phê thuốc lá hay lòng vòng cho đỡ chán. Anh Hai kiên nhẩn đứng một mình với đống hành lý. Hồi lâu quay lại thì thấy anh Hai đang trầm ngâm trong tay kín đáo cầm sâu chuổi lần hạt 150 kinh. Đoán là 150 vì thấy anh đứng cái tư thế đọc kinh như vậy cả tiếng đồng hồ.Thấy anh thinh lặng quá bọn tôi lại đi tìm chỗ hút điếu thuốc khác.

Đến đây chắc có người thắc mắc tại sao tôi gọi Dương là anh Hai mà không giải thích nguồn gốc cái tên này thì đây là câu trả lời. Sau lễ an táng Dương bên Cali cha Từ đến tham quan miền Đông Hoa kỳ. Hôm đó cha Từ và Nhung trên đường đi thăm cha Nguyễn Đình Sáng ở New York đã ghé Philadelphia thăm tôi. Vì là ngày Chúa nhật nhân tiện tôi mời cha làm lễ ở nhà thờ Saint Helena nơi tôi đang phục vụ. Nhân dịp này tôi đã hỏi nhỏ cha Từ về nguồn gốc của tên gọi anh Hai. Cha Từ cười cười ghé tai tôi nói: Hai nghĩa là “hai néo”. Quên rồi à? Lúc ở Làng sông có một dạo thày Dương phụ tá thày Trung nuôi heo. Vậy mà tôi không hề biết điều ấy cho tới bây giờ, cứ nghĩ vì là người mẫu mực nên Dương được phong chức anh Hai.Tôi quên kể cho các bạn là nuôi heo nái đẻ heo con cũng là một nguồn lợi kinh tế của các cha các thày ở Làng sông sau 75. Thày Trung có nhiệm vụ ra ngoài xóm để thuê heo nọc dắt vào nhà trường. Khi cái sự ấy diễn ra thì cha Đốc khuyên rằng các thày nên đi chỗ khác vì đứng ở chuồng heo không tiện. Cứ coi như đây là lời huấn đức cho nên ai cũng vâng lời mà chẳng hề thắc mắc là không tiện ở chỗ nào.

Ngày hôm nay anh Hai không còn nữa, thánh Dương đã Về Nhà Cha trên trời. Tôi không ngạc nhiên khi đọc Lời Cám ơn của CCS Nguyễn Hữu Nghệ em ruột của Dương viết trên e-mail Hội rằng: Trước khi ra đi, anh Dương trăn trối mọi người khi cầu nguyện cho anh thì nhớ kèm theo lời cầu nguyện cho các linh hồn khác nữa. Bản tính của Dương là như thế đó…Tôi xin kể thêm một chút về cuộc nói chuyện điện thoại cuối cùng của chúng tôi dịp Tết 2011 vừa qua. Dương tâm sự nếu Chúa cho khỏi bệnh thì sẽ xin được phục vụ Giáo hội trong bậc Phó tế vĩnh viễn. Nhưng nếu được Chúa gọi về là the best interest cho Dương và làm Phó tế vĩnh viễn là the second best thì Dương chọn the best (đây là nguyên văn lời tiếng Anh của Dương). Qủa thật là một mẫu gương thánh thiện.

Làm Ruộng            –     Sau 1975 chúng tôi thực sự trở thành những bác nông dân một trăm phần trăm từ nội dung cho đến hình thức. Công việc đồng áng các thày thuộc làu gồm những công đoạn gì ở vào thời điểm nào của một mùa lúa mỗi năm hai vụ. Hết Đông Xuân lại tới Hè Thu cứ thế mà luân hồi. Niên khóa 1974 đang là một sinh viên tu sĩ chuyên lo ăn học hay nói cách khác đang ăn trắng mặc trơn bây giờ phải lo việc nhà nông một cách chuyên nghiệp và tận lực thì anh nào cũng méo mặt. Trong lòng thì như thế mà bên ngoài cứ phải tô son lao động và cầu nguyện hay lao động là vinh quang cũng gần như nhau. Biết rằng “ăn theo thuở ở theo thời” nhưng vẫn cảm thấy gượng gạo làm sao. Phải chi tu dòng kín Châu sơn thì đã đành, đàng này cứ mong ngóng có ngày chịu chức để làm cha sở hay ít ra cũng làm thày sở thì cái sự nghiệp làm ruộng đâu có cần thiết. Niềm mơ ước ấy cứ trôi dần theo năm tháng mà chẳng hề thấy le lói tí nào chút ánh sáng cuối đường hầm… Công đoạn đầu tiên của một mùa ruộng là ủ lúa giống. Kế đến làm đất mạ. Khi lúa giống nứt mộng hay nẩy mầm thì đến lúc gieo. Gieo mạ nhìn thì dễ nhưng làm rất khó vì nắm lúa giống trong bàn tay khi bung vãi ra phải thật đều nếu không thì mạ non mọc lên chỗ cả đống chỗ lác đác nhìn chẳng giống ai. Hình như sau tám năm vẫn chưa có thày nào dám nhận công tác này cho nên mỗi lần gieo mạ phải mời ông biện Ngọc ở nhà thờ Tân dinh đến giúp. Cấy mạ xuống ruộng cũng là một công đoạn khó khăn phải thuê đám phụ nữ ở ngoài xóm làm mướn. Lúa bám rễ rồi thì yên tâm. Sau đó là công tác nhổ cỏ lúa. Việc này chúng tôi phải tự mình làm. Mười ông thày dàn hàng ngang gập mình xuống ruộng chổng khu lên trời cứ vậy mà tiến tới đằng trước từ bờ bên này đến bờ bên kia. Cỏ dại nhổ lên thì đạp dụi xuống bùn trở lại cho nó chết làm phân. Tôi quên nói đến việc phải cày bừa đám ruộng, dãy cỏ bờ ruộng và nếu ngoài mương thiếu nước thì phải tát nước vào ruộng trước khi cấy lúa. Khi lúa trổ đòng đòng thì phải chuẩn bị diệt chuột. Có những năm nhiều chuột cắn phá lúa non người dân phải mang thùng thiếc ra đồng vào ban đêm vừa gõ thùng vừa la lối inh ỏi để đuổi chuột. Cha Đốc có sáng kiến mang máy cày ra bờ ruộng bắt dynamo phát điện nối vào giây kẽm bao vòng quanh ruộng diệt được rất nhiều chuột. Chuột chết mang về nhà bếp làm chiến lợi phẩm. Cha QL Kính là người rất ghê sợ chuột. Thịt chuột đồng trắng phau được các thày chiên sào với tiêu hành mỡ tỏi thì thơm phức như trong nhà hàng. Dọn thịt chuột lên bàn cơm một anh nói dối cha QL thịt gà ngài tin ngay và còn khen ngon. Ăn xong ngài hỏi ở đâu mà có gà làm thịt thì thành thật khai báo thịt chuột. Cha QL đau khổ nhăn mặt muốn cho ra nhưng không ra được nên ngài chỉ nói ngắn gọn: tụi mi lừa tau! – rồi biến đi đâu mất. Khi lúa chín thì đến mùa gặt. Đây chính là nỗi kinh hoàng của tôi. Cứ nghĩ tới việc các thày xếp hàng ngang tay cầm câu liêm hăm hở hằm hằm như đạo binh sắp hàng vào trận cắt lúa hết đám này tới đám khác khiến tôi bị đau bao tử. Cắt lúa rồi bó lúa và gánh lúa chất lên cộ kéo về trường. Đập lúa, phơi lúa dăm ba nắng cho thật khô rồi rê lúa cho bay ra những hạt lép, sau đó cất vào kho. Làm ruộng khổ cực như thế chứ nào sướng ích gì. Vậy mà lại có chuyện này. Một dịp lễ nọ hình như lễ thánh Giuse bổn mạng cũng là xong mùa gặt thì Đức cha từ Qui nhơn lên thăm và cùng mừng lễ với chúng tôi. Hôm đó tất nhiên có magna cena là đại tiệc vừa mừng lễ vừa mừng ĐC. Ăn trưa xong cả bọn chúng tôi đứng vây quanh ĐC nghe ngài kể chuyện nói cười tíu tít. Cái hình ảnh cha con sum họp rất đẹp và rất vui. Bất thình lình ĐC nhìn tôi: Thày Huấn hé, làm ruộng có sướng không con? Tôi hoảng hồn vì bị hỏi bất ngờ. Trong tích tắc tôi lượng giá tình hình: không thể nói thật làm ruộng là cực khổ, mà nói làm ruộng sướng là nói láo. Tôi nhìn quanh cầu cứu miệng cười méo xệch thì thấy anh nào cũng quay mặt tránh né. Ngó sang anh bạn Kim Sơn đứng kề bên thì bắt gặp đôi mắt thương hại như thầm nhắc: liệu mà trả lời nghe con, nói khổ thì coi chừng mà nói sướng thì cũng coi chừng làm ruộng mút mùa. Tôi thấy ĐC vẫn chiếu tướng nhìn tôi chờ câu trả lời. Bí thế, không còn chọn lựa nào khác tôi đành nhắm mắt phang đại: Dạ thưa sướng! ĐC như nhận ra tôi đang bị ở thế kẹt và ngài là người làm tôi kẹt nên cũng không biết nói làm sao bèn chuyển đề tài: Èh, èh!

Giải Thể  1983    –    Có mở đầu thì có kết thúc. Có hợp thì có tan. Có sinh ắt có tử. Đó là định luật bất biến trong vũ trụ. Tựu trường 1975 – Giải thể 1983. Sống ở Làng sông tám năm không phải là dài nhưng cái tâm trạng tương lai mịt mù không biết cuộc đời sẽ đi về đâu làm chúng tôi ngao ngán đến tận cùng và chỉ mong Đức cha có một giải pháp. Điều phải đến đã đến: Giải thể. Lệnh của Trung ương là các Chủng viện ở mỗi Giáo phận phải đóng cửa để chuẩn bị chính thức mở cửa các ĐCV theo miền tức là Liên-Chủng-viện. Qui nhơn thuộc về ĐCV Sao biển, Nha trang. Chúng tôi vui mừng đón nhận giải pháp này và sẵn sàng lên đường trở về gia đình. Trước ngày chia tay cha Đốc thông báo các thày ai muốn lãnh hai Tác vụ Đọc sách và Giúp lễ thì viết đơn thỉnh nguyện gửi về TGM. Trong số 16 người cuối cùng còn lại ở ĐCV-LS có tám thày nộp đơn: Nguyễn Công Từ, Đặng Văn Trung, Lã Văn Cường, Lê Thu Thâu, Võ Quang Thanh, Nguyễn Kim Sơn, Nguyễn Huy Điệp và người thứ tám là kẻ hèn này. Bảy vị kia lần lượt kẻ trước người sau đã làm linh mục. Cuối cùng còn tôi vì là kẻ hèn nên xin được làm Phó tế. Thánh ý Chúa thật nhiệm màu trí khôn loài người nào ai hiểu thấu.

Lời kết       –        Đang trong tháng các Đẳng Linh hồn, bổn phận của một CCSLSQN là cầu nguyện cho Ông bà Cha mẹ Anh Chị Em mình, nhưng chúng ta không quên thêm lời cầu nguyện cho các Ân sư-Ân nhân-và Bằng hữu, trong đó có cha Huỳnh Thanh Khương, thày Phạm Cảnh Thủy và thày Nguyễn Hữu Dương. Ở đây tôi luôn tin tưởng rằng cha Đốc, chú Sáu và anh Hai hiện đang vui hưởng nhan thánh Chúa trên thiên đàng. Niềm tin ấy căn cứ trên một lý luận rất đơn giản. Cha Đốc trước khi đi Singapore chữa bệnh đã chào từ giã mọi người và hẹn ngày tái ngộ. Chú Sáu và anh Hai cùng cam chịu căn bệnh ung thư hành hạ qua bao nhiêu tháng ngày thì việc chuẩn bị hành trang linh hồn đã được đếm theo những ngày tháng đó. Thế thôi! Còn nói theo ngôn ngữ của Thánh Kinh:”Tất cả những người Chúa Cha đã ban cho Tôi thì sẽ đến với Tôi; Và ai đến với Tôi sẽ không bị bỏ ra ngoài” . Phúc âm Gioan chương 6 câu 37.

 

November 2011 – The Month of All Souls                                

 Deacon Tran Cong Huan

St. Helena Parish

Philadelphia, Pennsylvania

This entry was posted in Tổng hợp. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s