VẾT TÍCH MỘT ĐÔ THỊ CỔ -tài liệu về Nước Mặn

 

  • VẾT TÍCH MỘT ĐÔ THỊ CỔ

    Thứ sáu, 17/12/2010 16:28

    Ở nước ta chưa có đô thị nào phát triển liên tục trong 10 thế kỷ. Không kể đến những đô thị mang tính chất của một trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự như Thăng Long và Huế, một số điểm giao lưu hàng hoá cổ xưa như Phố Hiến, Thanh Hoa… cũng chỉ phát triển hơn 2 thế kỷ. Thị xã Hội An nếu tính luôn thời gian gần đây mới phát triển gần 5 thế kỷ.

    Vùng đất bao gồm huyện Tuy Phước và thành phố Qui Nhơn hiện nay, xưa kia trong 10 thế kỷ liên tục phát triển đô thị đã có 5 thế kỷ phát triển đô thị người Chàm (thành Thị Nại) và 5 thế kỷ phát triển đô thị người Việt (Nước Mặn, Gò Bồi, Qui Nhơn).

    Thành Thị Nại, theo từ dịch Trung Quốc là Thi-lị-bi-nại, tiếng Pháp gọi là Tri-vi-na-la là một cảng thương nghiệp của người Chàm. Năm 1471, Lê Thánh Tông đã từng đưa quân vào Thị Nại để tiến lên đánh chiếm thành Đồ Bàn.

    Những nghiên cứu gần đây tại xã Phước Hòa (Tuy Phước) cho thấy di tích của một thành cổ nằm bên con sông Gò Tháp. Con sông này lở và lộ ra chân thành, chiều dài chân thành tìm được dài khoảng 100 mét. Gạch xây thành tìm được khác với gạch xây tháp (tháp Bình Lâm cách đó 300 mét), gạch được xếp úp lại và có lớp chất dính rất mỏng. Ở phía nam sông Câu Đun cũng tìm được dấu thành và lối kiến trúc như vậy. Hiện nay ở các xóm Bình Nga, Long Mai, Bình Trung và Bình Long đào xuống độ 0,5 mét đều tìm thấy được gạch (trên diện tích 100 hét-ta). Lượng gạch như vậy chứng tỏ dấu tích của một thành quách rất lớn bên trong có nhiều kiến trúc khác nhau. Người Việt đến đây sinh sống qua nhiều thời kỳ bồi đắp, lũ lụt, đất phù sa vùi chôn dấu tích, người dân không biết mình đang sống trên một di tích cổ.

    Thành Thị Nại khác với các thành khác của người Chàm vì nó gắn liền với sự giao lưu hàng hóa, một trung tâm kinh tế của cả vùng. Ở đây, ngày xưa là cảng buôn bán. Có khả năng là thành xây dựng sớm hơn năm 980 khi người Chàm bỏ kinh đô tại Quảng Nam vào đóng ở đây rồi mới xây dựng thành Chà Bàn (Đồ Bàn).
    Thành Thị Nại phải tồn tại trên 5 thế kỷ. Vị trí của nó không những là cảng quân sự, cảng chính trị mà còn là cảng kinh tế nữa. Ở đây thường xuyên có những người nước ngoài như người La Sút, Hy Lạp vào buôn bán.

    Một đô thị khác ra đời sau thành Thị Nại là đô thị Nước Mặn. Địa danh Nước Mặn vẫn còn lưu lại đến hôm nay dù tên thị trấn này đã có cách đây 5 thế kỷ như chợ Nước Mặn, cầu Nước Mặn… Các dấu của dãy phố cũ và một dấu thành dài 32 mét xây bằng cát, đá, sạn nhỏ, mật ong và vôi tức là dạng kiến trúc vào đầu thế kỷ 18.
    Tại chùa Ông, chùa Bà ở Nước Mặn, người ta đã phát hiện thêm một ngôi mộ cổ vào thế kỷ 18.Tại đây người ta tìm thấy một cái lư có niên đại Gia Khánh ĐinhTỵ (1797) vào thời Tây Sơn có dòng chữ “Vạn Minh lô tạo” chứng tỏ lư này đã được đúc tại lò đúc Vạn Minh (Trung Quốc). Hiện vật này chứng tỏ thời Tây Sơn đã có chủ trương, đường lối ngoại thương buôn bán với nước ngoài.

    Tại Gò Bồi, người ta tìm thấy một văn bản thời Tây Sơn ghi niên hiệu Thái Đức năm thứ 15 (1792) chứng tỏ đô thị Gò Bồi cũng ra đời cùng lúc với Nước Mặn, khoảng nửa đầu với thế kỷ 18.
    Khi vùng Gò Bồi bồi lên, tàu thuyền đến Nước Mặn khó khăn nên đã tập trung buôn bán ở Gò Bồi. Đô thị Gò Bồi phát triển sau khi đô thị Nước Mặn bị bồi bởi dòng sông Côn. Sau đó đến thời kỳ cửa sông bị bồi đắp, thuyền buồm không thể đến Nước Mặn, từ đó cảng Qui Nhơn phát triển.

    Năm 1887, người Pháp đến chiếm đóng Qui Nhơn và hình thành tên gọi thành phố cảng này. Nhiều người nghĩ rằng thành phố Qui Nhơn ra đời bằng giấy khai sinh của thực dân Pháp nhưng qua nghiên cứu chùa chiền, hội quán của người Hoa tại Qui Nhơn, chúng tôi thấy ghi niên đại 1850. Một số di tích khác ghi tên người Việt là chủ buôn chủ thuyền với niên đại 1827. Như vậy, trước lúc bọn Pháp đến ít nhất 60 năm nơi đây đã phát triển buôn bán, giao lưu hàng hoá rồi.

    Đến bây giờ, chứng cứ khoa học đã kết luận được vùng Tuy Phước, Qui Nhơn đã trải qua một thời kỳ lịch sử từ trước thời Tây Sơn 300 năm, nền kinh tế, văn hóa đô thị phát triển rực rỡ, lâu đời ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân trong vùng.

    http://blog.yume.vn/xem-blog/vet-tich-mot-do-thi-co.241263.35D0FB29.html

     

    Thương nhớ Gò Bồi
    Gò Bồi bây giờ là một làng quê nông nghiệp, họat động thương mại dịch vụ chủ yếu gói gọn ở một quãng phố chợ dọc bờ sông Gò Bồi. Mấy ai biết rằng hơn trăm năm trước, bên dòng sông này là vùng cảng thị Gò Bồi sầm uất với những dãy phố tấp nập trên bờ, còn dưới sông là cảnh những thương thuyền chen chúc từ khắp nơi đổ về …

    Theo PTS Đỗ Bang (Đại học Huế) thì vào khoảng thế kỷ 16 –17 trên sông Âm Phù (một đọan của sông Kôn, nhánh chảy từ cầu Tân An về cầu Gò Bồi ngày nay) đã hình thành cảng – thị Nước Mặn, đây chính là trung tâm kinh tế của Phủ Quy Nhơn ngày ấy. Khi đó Nước Mặn đã xuất hịên trên những hải đồ mậu dịch của người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, được nhiều người mô tả là một đô thị rộng rãi, trù phú xứng đáng là một thành phố (ville) hay một cảng (port). Hành trình hàng hải lúc ấy có lẽ đã đi theo trục: Biển Đông – Vịnh Quy Nhơn – Đầm Thị Nại – ngược sông Gò Bồi lên cảng thị Nước Mặn.

    Ngày ấy nếu Hội An (Quảng Nam), Thanh Hà (Thừa Thiên – Huế) là thương cảng quốc tế nổi tiếng thì Nước Mặn lại giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu của nền nội thương toàn xứ Đàng Trong và cả một bộ phận không nhỏ kinh tế Đàng Ngòai. Đến thế kỷ 18, phù sa sông Kôn không tải được ra biển đã đọng lại ở dòng sông, đáy sông bị nâng dần lên, tàu thuyền không tiến sâu vào nội địa được và cảng thị Nước Mặn chìm dần vào quên lãng.

    Ghe thuyền không lên đến Nước Mặn nhưng nhu cầu hàng hóa vẫn còn, vẫn cần một bến cảng thay thế và Gò Bồi đã hình thành để tiếp nhận luồng thương nghiệp giàu có này. Tuy không còn tầm vóc như Nước Mặn (hầu như không có tàu buôn ngoại quốc vào Gò Bồi) nhưng Gò Bồi vẫn là khu vực mậu dịch nổi tiếng khắp cả nước, và nó tồn tại cho đến quãng đầu những năm 60 của thế kỷ 20 mới chấm dứt.

    Trong nhiều thư tịch cổ, Gò Bồi được hình dung như sau: bến sông được xây bằng đá xanh, ghe thuyền cập bến xếp dỡ hàng hóa rất thuận tiện, trên bến có rất nhiều tiệm buôn của người Hoa, người Ấn Độ và cố nhiên là của người Việt. Chợ Gò Bồi vào những ngày chính phiên có rất đông người đến giao dịch, buôn bán, ghe thuyền nhiều tỉnh xa như Bình Thuận, Nghệ An, Hà Tĩnh… cũng về đây ăn hàng. Ông Phan Quán – một cựu dân Gò Bồi kể lại: “Đến quãng những năm 1945-1946 thì Gò Bồi vẫn còn sầm uất lắm, thậm chí quy mô buôn bán giao dịch còn mạnh hơn cả ở Quy Nhơn. Thuyền từ trong Nam Bộ chở ra đây những sản vật miền Nam, ghe bầu của Phan Thiết, Phú Quốc chờ nước bổi, muối ăn ra trao đổi, buôn bán. Dưới bến tàu bè san sát, trên bờ hàng dãy dài tiệm buôn chen chúc cùng những kho vựa hàng hóa. Các hiệu buôn nổi tiếng lúc ấy có: Thạch Thân, Lợi Thêm (tạp hóa), Tú Bốn, Quy Sanh (thuốc Bắc), Văn Long, Tân Việt (buôn bán vàng) … Ngay từ năm 1959 Gò Bồi đã có hiệu “chớp ảnh” Nhơn Thọ, chủ hiệu sắm được máy phát điện đem về thắp sáng cả một vùng … “. Bà Huỳnh Thị Đào (Tân Giảng – Phước Hòa) nhớ lại: “Ngày còn trẻ tôi đã chứng kiến cảnh ghe bầu Bình Thuận cỡ lớn dài 20-30 m, đón gió nồm dàn hàng ngang một lần 5-7 chiếc cùng tiến vào cửa sông để ngược lên Gò Bồi. Nên nhớ là cách đây chừng 60-70 năm thuyền buôn hàng trăm tấn còn ngược sông lên đến tận vùng An Thái, Nhơn Khánh kia đấy”.

    Với vị trí đặc biệt của mình Gò Bồi trở thành trung điểm của các luồng thương mại: Từ Phú Yên ra đến Quảng Ngãi và từ Tây Nguyên xuống đồng bằng miền Trung. Thế rồi dòng sông tiếp tục bị bồi lấp trong khi con người không có nỗ lực nào để khơi dòng, thuyền bè ra vào phải chọn lúc triều cường. Chiến tranh và những biến động của lịch sử sau đó đã khiến Gò Bồi mất đi vị trí của mình. Đến quãng những năm 1960-1964 thì cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền san sát của Gò Bồi chỉ còn trong ký ức của khách thương hồ và trong niềm tiếc nuối của thị dân Gò Bồi …

    Gò Bồi hiện nay chỉ còn là trung tâm của một xã Phước Hòa (Tuy Phước). Tuy nhiên do nằm ở vị trí chiến lược trên tuyến kinh tế mạn Đông Tuy Phước, Phù Cát nên trong tương lai khi hệ thống đường ven biển của tỉnh Bình Định hoàn thành, Gò Bồi sẽ có nhiều cơ may để tìm lại vinh quang xưa.

    Đông A – Báo Bình Định http://www.baobinhdinh.com.vn/568/2003/4/2869/

    http://goboiquetoi.blogspot.com/2009/06/thuong-nho-go-boi.html

     

    Cảng thị Nước Mặn – một hình dung…

    07.01.2011 bởi cuongdequynhon

    Địa danh Nước Mặn được nhắc đến khá nhiều trong các công trình nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn hóa về Bình Định nói riêng và miền Trung nói chung, đặc biệt là trong các công trình khảo cứu lịch sử kinh tế. Sách “Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân (NXB Khoa học xã hội, quý I năm 2010) giúp chúng ta có cái nhìn rõ hơn về một vùng đất lừng danh trong quá khứ…

    Cảng thị Nước Mặn ở Tuy Phước, Bình Định là một đô thị – thương cảng phồn vinh vào thời các chúa Nguyễn, sau đó, suy tàn vì biến đổi của tự nhiên.

     

     

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân.

     

    Trong sách “Xứ Đàng Trong năm 1621”, thừa sai người Bồ Đào Nha Cristophoro Borri miêu tả cảng thị Nước Mặn: “dài chừng hai dặm và rộng tới một dặm rưỡi”. Thời phồn vinh của cảng thị Nước Mặn là từ đầu thế kỷ XVII cho đến giữa thế kỷ XVIII. Thời ấy, vùng trung tâm cảng thị Nước Mặn có nhiều dãy phố chạy ngang chạy dọc như kẻ bàn cờ. Có những dãy phố chuyên bán một loại hàng hóa: dãy phố Tàu Sáu chuyên bán vàng bạc và đồ trang sức, dãy phố Tàu Đông có nhiều tiệm thuốc Bắc; ngoài ra còn có phố hàng mã, hàng pháo, hàng đồ gốm, hàng mỹ nghệ… Sầm uất nhất là khu phố chợ. “Tới ngày chợ phiên, tàu thuyền đậu kín bến, voi chở lâm sản từ miền thượng về, ngựa thồ hàng từ các thị trấn, thị tứ trong vùng tới. Người trong nước, người nước ngoài đủ màu da, nhiều tiếng nói, đi lại nhộn nhịp trên đường phố” (Xứ Đàng Trong năm 1621, trang 89, 90).

    Sách “Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân (NXB Khoa học xã hội, 2010), gồm 5 chương: Biển Đông với cửa biển – cảng thị – đô thị – kinh đô ở Bình Định; Những dấu tích và ký ức còn lại ở vùng Thị Nại – Nước Mặn; Cảng thị Nước Mặn theo dòng lịch sử; Văn hóa cổ truyền của cảng thị Nước Mặn; Kết quả sưu tầm nghiên cứu, những tồn nghi và đề xuất.

    Cảng thị Nước Mặn hiện ra như là một sản phẩm của sự giao lưu giữa nhiều luồng kinh tế, văn hóa. Suốt một thời gian dài, người Việt cộng cư với người Chăm, người Hoa, với các giáo sĩ, thương nhân phương Tây tới buôn bán, truyền giáo đã tạo dựng nên một đời sống đa sắc. Nước Mặn linh hoạt tiếp thu những yếu tố mới để tồn tại và phát triển nhanh chóng.

    Suốt gần hai thế kỷ tồn tại, từ hình thành, phát triển đến phồn vinh rồi suy tàn, cảng thị Nước Mặn không chỉ là một trung tâm thương mại mà còn là một trong những trung tâm văn hóa của Bình Định.

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân là người đầu tiên đặt vấn đề sưu tầm, nghiên cứu cảng thị Nước Mặn thành một đề tài độc lập. Ông viết: “Việc sưu tầm, nghiên cứu “Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền” không nằm ngoài mong muốn góp phần làm phong phú thêm truyền thống văn hóa của người Bình Định, vốn là chủ nhân của một vùng đất đã từng là phiên trấn của nước ta suốt một thời gian dài (1471-1611)”.

    Sách “Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân được Dự án Công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam hỗ trợ xuất bản. Công trình này cũng như nhiều công trình nghiên cứu văn hóa dân gian khác đã và chưa xuất bản của tác giả Nguyễn Xuân Nhân thể hiện quá trình lao động nghiên cứu cần mẫn, tâm huyết và nỗ lực không biết mệt mỏi của người có gần 40 năm gắn bó với công việc điền dã, sưu tầm, biên soạn các công trình nghiên cứu về văn hóa, văn nghệ dân gian Bình Định.

    • Sao Ly

    http://cuongdequynhon.com/2011/01/07/c%E1%BA%A3ng-th%E1%BB%8B-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-m%E1%BA%B7n-m%E1%BB%99t-hinh-dung%E2%80%A6/

     

    Lễ hội Đô thị Nước Mặn

     

    Viết bởi Nguyễn Phạm Kiên Trung
    Thứ hai, 08 Tháng 2 2010 20:34
    Trong ba ngày 30 tháng Giêng và mùng 1, 2 tháng 2 âm lịch, tại thôn An Hòa, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, diễn ra Lễ hội “Đô thị Nước Mặn”. Đây là một trong những lễ hội cổ truyền có quy mô lớn và ra đời cách đây gần 4 thế kỷ, kể từ khi Cảng thị Nước Mặn còn ở thời kỳ phồn vinh.

     

    Lễ hội đua thuyền ở Phước Hòa (Tuy Phước). Ảnh: Đ.T.Đ

     

    Cách đây trên 500 năm, nhiều cư dân người Việt và một số cư dân người Hoa theo đường biển vào đây lập nghiệp. Các làng Vĩnh An, Lạc Hòa từ đó cũng được hình thành. Nước Mặn là một đô thị thương cảng nổi tiếng ở Đàng Trong thời bấy giờ, từng có trong bản đồ hàng hải quốc tế của người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… Lễ hội được tổ chức ở chùa Bà, vùng đất trung tâm cảng thị thuở trước. Chùa Bà là nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, một nhân vật có công cứu vớt tàu thuyền mắc nạn trên biển khơi.

    Thuở xưa, khi cảng thị còn phồn vinh, phố phường đông đúc, tới ngày lễ, dân cảng thị cả người Việt và người Hoa khiêng kiệu tới miếu Thành Hoàng, miếu Quán Thánh, miếu Bà Mụ, rước linh vị của các vị thần này về chùa Bà để chuẩn bị tế lễ. Nửa đêm 30 là lễ tế chính thức thần Thành Hoàng, Thiên Hậu, Quán Thánh, Bà Mụ. Sau ngày tế thần, sang ngày thứ hai và thứ ba là hội. Nghi thức đầu tiên là rước các biểu trưng hình những người có công khai sáng vùng đất này: kẻ đốn cây phá rừng ngập mặn, người vỡ ruộng đắp bờ, kẻ bủa lưới đánh cá, người chăn nuôi gia súc… được cung kính đặt lên kiệu, nối nhau khiêng đi. Còn có biểu trưng tàu thuyền viễn dương với những tay chèo vạm vỡ vượt sóng gió, làm sống lại những ngày đầu tàu thuyền bốn phương tới cảng thị buôn bán.

    Sau rước biểu trưng, ban ngày thì các trò chơi dân gian nối tiếp diễn ra: đánh đu, kéo co, đấu võ, đấu vật, chơi cù, chọi gà, bắt vịt, nấu cơm thi, đập ấm, bịt mắt bắt dê… Có trò chơi tao nhã như thả thơ, xổ cổ nhơn, hô bài chòi, đánh cờ người, có trò tiếp nhận của người Hoa như: tục đổ giàn, đốt cây bông… Ban đêm, các gánh hát nổi tiếng được mời tới diễn tuồng…

    Ngày nay, cảng thị Nước Mặn đã suy tàn. Vùng trung tâm cảng thị xưa gồm nhiều dãy phố chạy ngang dọc như bàn cờ, có dãy phố chuyên bán thuốc bắc, vàng bạc, tơ lụa… nay chỉ còn lưu giữ chút dấu tích ít ỏi: tảng đá to dựng đứng dưới chân hòn Kỳ Sơn là bến neo thuyền, chiếc cầu ngói vốn xưa bắc qua một nhánh của sông Cây Da, rồi chùa Bà, gò Dinh – nơi làm việc của quan trấn thủ cảng thị, dấu vết nhà thờ Nước Mặn, hai cây cổ thụ và một khu đất trống từng là chợ Nước Mặn tấp nập họp thường nhật… Tuy nhiên, Lễ hội Nước Mặn vẫn được duy trì như một gợi nhớ về một thời phồn thịnh thuở xưa.

    Miếu thờ duy nhất còn lại ở vùng trung tâm cảng thị chỉ còn lại chùa Bà nên trong chùa thờ cả ba vị thần: Thiên Hậu ở gian giữa, Thành Hoàng và Bà Mụ ở hai gian hai bên. Phần tế lễ vẫn được tôn trọng và tiến hành theo ý nguyện. Ngày thứ hai mới là khai hội. Tuy nhiên, phần rước biểu trưng không còn, nhưng một số trò chơi truyền thống vẫn được tổ chức, ban đêm vẫn đón gánh hát bội về diễn trong những đêm hội. Ban Tổ chức lễ hội còn tổ chức thi đấu thể thao như bóng đá, bóng chuyền nên đã thu hút khá đông thanh niên tham gia.

    Trong những ngày lễ hội, người dân khắp nơi đổ về An Hòa vừa dự lễ, đồng thời cũng là dịp đến thắp hương cầu xin một năm mới làm ăn tốt lành. Nhiều người hiếm muộn còn đến dự hội để cầu mong về đường con cái.

    • Khải Nhân

     

     

 

 

This entry was posted in Tổng hợp. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s