ANRÊ PHÚ YÊN : CUỘC GẶP GỠ CỦA HAI ĐƯỜNG “MỞ CÕI” Lm. Giuse Trương Đình Hiền

 

Phú Yên vừa kỷ niệm 395 năm ngày thành lập tỉnh : 1611 – 2006, căn cứ vào cột mốc lịch sử  với “biến cố Văn Phong” mà sách Đại nam Nhất Thống Chí-tỉnh Phú Yên đã ghi lại :“Năm Tân hợi (1611), người Chiêm xâm lấn biên cảnh, vua sai chủ sự là Văn Phong dẹp yên, lấy đất ấy làm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, đặt phủ Phú Yên thuộc dinh Quảng Nam và dùng ông làm Lưu thủ” [1].

Như vậy danh xưng “PHÚ YÊN”, một danh từ thuần túy Việt Nam, đã xuất hiện ngay trên phần đất tuyến đầu của thời “mở cõi”, mảnh đất biên thùy của xứ “Đàng Trong”, mảnh đất ghi đậm dấu vết chiến chinh của hai dân tộc Chiêm Thành-Việt Nam.

Trong khi đó, Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam cũng vừa tưởng niệm 380 năm ngày sinh của một Vị Á Thánh trẻ, Á Thánh Anrê Phú Yên (1625-2005) mà tên của Người là một tổng hợp đầy ý nghĩa, một gặp gỡ tuyệt vời giữa một bên là “Đạo trời với tên rửa tội Anrê” và một bên là “quê hương đất nước với địa danh Phú Yên”.

Và khía cạnh độc đáo nhất mà chúng ta có thể tìm thấy nơi Vị Á Thánh nầy lại chính là cuộc gặp gỡ giữa hai con đường : Con đường “MỞ CÕI ĐỊA LÝ’ của dân tộc ta trên bước đường Nam tiến và con đường “MỞ CÕI TIN MỪNG” của các vị thừa sai và cha ông tiên tổ trong những nỗ lực thuở ban đầu gieo hạt giống Tin Mừng trên mảnh đất Việt Nam thân yêu.

 

Trước hết, để có một cái nhìn khái quát về công cuộc “mở cõi’ của cha ông trong bước đầu Nam tiến của dân tộc, chúng ta thử lần theo những chỉ dẫn của Địa Chí Phú Yên để nhìn lại những cột mốc lịch sử quan trọng nầy :

 

I. PHÚ YÊN : CON ĐƯỜNG “MỞ CÕI ĐỊA LÝ” [2] :

1. Phú Yên từ 1578 đến 1611

 

Năm 1578, người Chiêm tiến hành việc xâm lấn biên cảnh, Lương Văn Chánh đem quân đánh chiếm thành Hồ, rồi ông chiêu tập dân Chiêm khai khẩn đất hoang ở Cù Mông, Bà Đài và cho dân di cư đến đây; lại mộ dân khai hoang ở trên dưới triền sông Đà Diễn (nay là sông Đà Rằng), chia lập thôn, ấp, ngày dần đông đúc.

Nhưng thời điểm khai hoang lập ấp của Lương Văn Chánh ở Phú Yên còn có những nguồn tài liệu viết khác. Theo ghi chép của sách “Liệt truyện tiền biên” và các bản thần sắc còn lưu giữ tại làng Phước Khánh, xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa nay, thì ngày mùng 6 tháng 2, năm Quang Thuận thứ 20 (1597), với tư cách là Tổng trấn Thuận – Quảng, Nguyễn Hoàng lệnh cho Lương Văn Chánh:

“Thị Phù Nghĩa hầu Lương Công Chính năng tòng quân nhật cửu hữu công quyền vi Tuy viễn huyện, An Biên trấn quan, củ suất Bà Thê xã, trục hạng nhân số tịch khách hộ các thôn phường tòng hành ứng vụ, nhưng suất thủ tân đáo nhân dân khách hộ, tựa Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Nông đẳng xứ thượng tự nguồn, hạ chí hải khẩu, kết lập gia cư, địa phận, khai phá hoang nhàn yếu thành điền thổ, tam niên thành thục, nạp thuế như lệ. Nhược sinh sự nhiễu dân, giai suất hữu tội !

Tư thị !

Thử thị hệ Quang Hưng nhị thập niên nhị huyện sơ lục nhật, Tổng trấn tướng quân chi ấn”

Dịch nghĩa: Báo cho Lương Văn Chánh là Phù Nghĩa hầu đã có công tòng quân lâu ngày, được quyền coi sóc trấn An Biên, huyện Tuy Viễn, đốc thúc số lưu dân ở xã Bà Thê và các phường thôn khách hộ theo làm nhiệm vụ, dẫn đem theo những hộ dân mới tới đến các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Nông, trên từ vùng sơn cước, dưới thì đến các cửa biển, cùng nhau lập nhà cửa, khai phá đất hoang hóa thành ruộng vườn, trải qua ba vụ thì nộp thuế như lệ. Nếu sinh việc sách nhiễu nhân dân mà bị phát giác sẽ phải chịu tội.

Nay báo !

Theo lệnh, ông Lương Văn Chánh chiêu tập lưu dân từ miền Thanh – Nghệ và Thuận Quảng vượt đèo Cù Mông vào đất Trấn Biên bắt đầu tạo dựng cơ nghiệp. Tại đây, ông Lương Văn Chánh chia Trấn Biên làm 3 khu vực để khẩn hoang:

Khu vực 1: từ Cù Mông đến Bà Đài.

Khu vực 2: từ Bà Đài đến châu thổ sông Cái.

Khu vực 3: từ Bà Diễn đến Đèo Cả.

Ở mỗi khu vực, ông tổ chức khai hoang khác nhau.

Khu vực 1: Ông cho dân khai phá từ chân đèo Cù Mông đến Vũng Lấm, họ vừa trồng các loại cây lương thực vừa khai thác các nguồn lợi thủy sản ở đầm Cù Mông và hình thành các tụ điểm cư dân ở những nơi có nguồn nước ngọt và những nơi vùng gò đồi, đất thấp.

Khu vực 2: Ông tập trung khai thác vùng đất bán sơn địa, các triền núi thấp, tạo thành những đám ruộng bậc thang để trồng lúa, trồng ngô, khoai. Các tụ điểm dân cư được hình thành theo các thung lũng hoặc triền núi thấp có nguồn nước. Ông Lương Văn Chánh cũng tiếp thu kỹ thuật canh tác của người Chăm thông qua việc dùng đá, đất đắp bờ chống xói mòn và đào giếng khai thác các mạch nước trên núi để phục vụ nhu cầu tưới và sinh hoạt.

Đối với vùng châu thổ sông Cái, Ông cũng chia lưu dân ra từng nhóm để khai hoang, mỗi nhóm có từ 50 đến 70 người, ở cách xa nhau vài ba dặm và thường nằm sát chân núi hoặc triền núi.

Khu vực 3: là vùng đất được nhiều con sông lớn đem phù sa bồi đắp, nhưng đến thời điểm đó vẫn là vùng hoang hóa. Lương Văn Chánh chọn những thanh niên khỏe mạnh tham gia binh bị kết hợp với công việc khẩn hoang, trước hết là ở hạ lưu sông Ba. Khai hoang đến đâu, ông đưa dân tới đó, chia ruộng đất cho họ và triển khai việc sản xuất.

Sau một thời gian tiến hành khai hoang ở các khu vực, vùng đất Trấn Biên đã có những biến đổi nhanh chóng. Ngoài sản xuất nông nghiệp là chính, một số nghề thủ công cũng bắt đầu hình thành, lúc đầu mang tính chất nghề phụ của gia đình, sau phát triển thành làng nghề truyền thống như nghề gốm, dệt, tơ tằm, làm mía đường, chế biến nước mắm.

Về quản lý làng xã: lúc đầu vẫn còn mang tính chất tự quản. Mối quan hệ giữa các dòng họ và cá nhân trong làng rất hòa thuận, đoàn kết, chưa có sự phân biệt dân chính cư hoặc ngụ cư.

Về quản lý ruộng đất: sau một thời gian, cuộc sống ở vùng Trấn biên đã ổn định, xã hội bắt đầu xuất hiện tầng lớp giàu và nghèo. Trước tình hình đó, ông Lương Văn Chánh thực hiện chính sách quản lý ruộng đất như sau:

Đối với công điền là ruộng đất do người Chiêm để lại, người nông dân được chia để sản xuất, không được bán, không được chuyển nhượng và phải nộp thuế cho nhà nước.

Đối với tư điền và ruộng đất mới khai phá được miễn thuế 10 năm. Người có đất được quyền bán, chuyển nhượng, làm ruộng hương quả.

Bên cạnh những quy định trên, ông Lương Văn Chánh còn áp dụng chính sách quản lý ruộng đất do Nguyễn Hoàng quy định. Theo đó, ruộng đất mới khai hoang phải để một phần sung làm công điền của các làng ấp, đồng thời phải thực hiện nghiêm việc nộp thuế cho Nhà nước.

Với công lao đó, khi ông Lương Văn Chánh mất, được nhân dân Phú Yên tôn thành vị Thành hoàng bổn xứ và ông được thờ cúng ở hầu hết các đình làng trong tỉnh.

 

 

2. Phú Yên từ 1611 đến 1771

Năm 1611, người Chiêm xâm lấn biên cảnh, Chúa sai chủ sự là Văn Phong đem quân đánh Chiêm Thành, lấy đất bên kia núi Cù Mông đến Thạch Bi đặt làm phủ Phú Yên gồm 2 huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa, cho Văn Phong làm Lưu Thủ.

Năm 1629, Văn Phong làm nghịch, chúa Nguyễn Phúc Nguyên cử phó tướng Nguyễn Phúc Vinh vào đánh dẹp và mở rộng đất đến Bình Khang (Khánh Hòa ngày nay), được chúa Nguyễn giao phó việc tổ chức đồn lũy và dinh Trấn Biên. Chúa Sãi phong ông làm Lưu Thủ và cho phép dùng dấu ấn son vì có công lớn.

Dinh Trấn Biên là đơn vị hành chính địa phương cao cấp (như cấp tỉnh ngày nay) được đặt ở một vùng đất trấn giữ nơi biên thùy. Dinh Trấn Biên cai quản phủ Phú Yên gồm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.

Năm 1653, đời chúa Nguyễn Phúc Tần, vua Chiêm Thành là Bà Tấm đưa quân xâm lấn Phú Yên. Chúa sai cai cơ Hùng Lộc (không rõ họ) làm thống binh, xá sai Minh Võ làm tham mưu, đem 3000 quân đi đánh. Quân chúa Nguyễn vượt đèo Hổ Dương (núi Thạch Bi) đánh thẳng vào thành địch. Bà Tấm bỏ chạy, đại quân chúa Nguyễn tiến đến sông Phan Rang, Bà Tấm sai con là Xác Bà mang thư xin hàng, chúa y cho. Chúa Nguyễn lấy đất mới thu được đặt làm dinh Thái Khang (sau đổi là Bình Khương, tức là Ninh Hòa ngày nay) và Diên Ninh (tức là Diên Khánh ngày nay) và kể từ đây vai trò Trấn biên của Phú Yên xem như đã chấm dứt.

Năm 1726, Chúa sai ký lục chính dinh là Nguyễn Đăng Đệ đi tuần xét các phủ xứ Quảng Nam, định rõ chức lệ cho các thuộc mới lập vì: “Buổi quốc sơ mới mở mang bờ cõi, dựng lập phủ huyện, hễ những nơi gần núi ven biển thì lập làm thuộc. Theo đó phủ Thăng Hoa 15 thuộc, phủ Qui Ninh 13 thuộc, phủ Phú Yên 38 thuộc, phủ Bình Khang 28 thuộc, phủ Diên Ninh 14 thuộc, phủ Bình Thuận 20 thuộc, các thuộc đều lấy thôn, phường, nậu, man lẻ tẻ hợp lại, song chưa có lệ đặt các chức dịch”.

Tháng 4-1758, Chúa sai Nguyễn Khoa Trực làm Trấn thủ phủ Phú Yên, đốc thu các thứ thuế thường tân và sai dư vì theo lời Chúa Nguyễn. “Buổi quốc sơ Phú Yên là đất mới khai thác nay đã đặt quan cai trị nhưng mà thuế má vẫn còn rộng rãi, đơn giản. Sai dư[1][1] chính hộ và khách hộ hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa cũng như các phủ, còn các tiền cước mễ[1][2], thường tân[1][3], tiết liệu[1][4] thì ít hơn so với phủ Thăng Hoa và Điện Bàn. Đến khi các phủ Bình Khang, Diên Khánh, Bình Thuận, Gia Định dần dần mở mang, thì lệ thuế cũng như tỉnh Phú Yên”. Điều đó cho thấy nhà Nguyễn dùng thuế như là một chính sách để thu hút các nguồn lực, đẩy nhanh cuộc khẩn hoang, nhằm xác lập một cách vững chắc chủ quyền trên vùng đất mới.

 

 

[1][1] Sai dư: là loại thuế thân

[1][2] Tiền cước mễ: tiền gạo nước.

[1][3] Tiền thường tân: tiền cơm mới.

[1][4] Tiền tiết liệu: tiền lễ tết

II. PHÚ YÊN : CON ĐƯỜNG “MỞ CÕI TIN MỪNG” :

Và cũng từ buổi Nam tiến thuở ấy của cha ông, song song với những cuộc khai hoang khẩn đất, bạt núi lấp sông để làm nên quê hương Phú Yên phong phú giàu đẹp như hôm nay, còn có một cuộc “khẩn hoang tinh thần”, một công trình “phúc âm hóa” đã khởi sự ngay từ thuở ấy để Phú Yên góp phần cùng với mọi miền Đất Nước làm nên một “Hội Thánh Việt nam” tươi trẻ, sinh động, đang nổ lực làm chứng đức tin và sự hiện diện của Đức Kitô Phục sinh cho một Á Châu mênh mông chiếm tớ 2/3 dân số thế giới, nhưng chỉ 3/100 số người nhận biết Chúa Kitô.

Chúng ta thử cùng theo chân linh mục Vũ Thành trong tác phẩm “Dòng Máu Anh Hùng”của ngài để cùng cảm nhận được điều mà sứ ngôn Isaia đã nói “Đẹp thay những bước rao giảng Tin Mừng”. Phải chăng đó cũng chính là những bước chân của cha ông tiên tổ đem Tin Mừng Cứu độ của Đức Kitô gieo trông trên mảnh đất Phú yên[3]:

Năm 1624 giáo khu Nước Mặn, gồm 3 tỉnh phía Nam là Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Phú Yên, phát triển nên Cha Bozumi xin thêm thừa sai. Phái đoàn thừa sai gồm 5 cha đã đến vào tháng 12-1624.

Lúc này đã có hai thầy giảng làm việc tông đồ như các tu sĩ, đó là Thầy Phêrô và Manuelô, đồng thời có những vấn đề mới được đặt ra như việc tôn kính tổ tiên và danh từ để chỉ Thiên Chúa. Các cha đã họp công đồng tại Hội An để ấn định các việc phải làm chung. Đặc biệt các cha nghĩ đến việc thích nghi, thay vì lễ cầu hồn vào mùng 2-11 các cha ấn định vào mùng 2-9 cho hợp với mùa kính nhớ tổ tiên của Việt Nam….

Tại Qui Nhơn, họ đạo Nước Mặn bị quan trấn hành hạ hơn sắc lệnh cấm đạo của Chúa Sãi. Giáo dân không sợ hãi trước lời đe dọa, họ thách thức lại quan và tâu về triều đình. Triều đinh sai một quan lớn về điều tra và công bố rõ ý định của Chúa Sãi là cấm đeo ảnh chứ không cấm đạo Kitô. Trái lại quan trấn Phú Yên không công bố sắc lệnh, cũng không thi hành nhưng còn về kinh để biện hộ cho đạo Kitô nữa. Sau lệnh cấm đạo, con trưởng Chúa Sãi chết làm mọi người tin là trởi phạt, vì thế rất đông người trở lại đạo, các cha lại được tự do đi truyền giáo khắp cả bốn tỉnh, nơi thì rửa tội được 602, nơi khác 816, có chỗ tới 1033 người”.

Sau các ngài thành công vào được tỉnh Phú Yên. Nhưng chẳng may tới bãi biển Phú Yên các cha và các thầy bị bọn cướp tấn công, ba thầy bị giết chết còn các người khác bị đánh nhừ tử. sau mười ngày các ngài được một người Công Giáo giúp đỡ. Khi quan trấn Phú Yên biết được liền sai người đến an ủi, giúp đỡ các cha. Quan cũng làm tờ biểu cuối năm trình về Chúa Sãi và được lệnh phải trục xuất các cha. Quan trấn giả cách bảo người công giáo đi khắp nơi dò hỏi xem các cha trốn ở đâu để dân đến nghe quan đọc lệnh trục xuất, nhưng đồng thời nói riêng với họ giúp các cha trốn tránh chứ nếu ở trong rừng lại bị trộm cướp bắt lại.

Học giả Phạm Đình Khiêm trong tác phẩm “Người Chứng thứ Nhất” cũng đã cho chúng ta những chứng cứ hùng hồn về giai đoạn Phúc âm hóa đặc biệt nầy tại Việt Nam :

“Đời Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên năm thứ hai, ngày 18 tháng Giêng 1615, nhằm lễ kỷ niệm thánh Phêrô lập tòa ở La-mã, hai giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên đặt chân đến Đà nẵng : Francesco Buzomi, người Ý, và Diego Carvalho, người Bồ Đào Nha. Giáo sĩ thứ hai nầy chỉ ở ít lâu, rồi được phái qua Nhật bản và tử đạo ở đó năm 1624. Cha Bề trên Buzomi ở lại điều khiển việc truyền giáo trong 24 năm liền, đáng gọi là nhà sáng lập Giáo đoàn Đàng Trong.

Hai giáo sĩ cất một ngôi nhà thờ đầu tiên ở Đà Nẵng ; ngày phục sinh năm ấy (1615) các Ngài cử hành Thánh lễ đầu tiên và rửa tội cho mười giáo hữu tiên khởi. Ít lâu sau, cũng trong năm 1615, cha Buzomi lại xây ngôi nhà thờ thứ hai tại ngay thủ phủ dinh Quảng Nam với sự giúp đỡ của các giáo hữu tân tòng ở đấy, nhất là bà quí phái Gioan-na. Tổng cọng một năm đầu đã có 300 tín hữu…” [4]

III. ANRÊ PHÚ YÊN : CUỘC GẶP GỠ CỦA HAI ĐƯỜNG MỞ CÕI

 

Nếu Phú Yên là danh xưng địa lý đầu tiên của vùng đất “Chiêm Thành” trở nên “Việt thuộc” vào thế kỷ 17, thì Giáo Hội Việt nam cũng rất hân hạnh có được một “người ngoại” trở thành “Kitô hữu”, một Người Con ưu tú, một Chứng Nhân đầu tiên mang tên Phú Yên. Đó chính là Á Thánh ANRÊ PHÚ YÊN, Vị Chứng Nhân Tiên khởi của Hội Thánh Việt Nam và là nhân vật ghi dấu ấn “một thời mở cõi” của các Vị Thừa Sai khi đem Tin Mừng cứu độ gieo trồng vào mảnh đất Việt Nam, như lời phát biểu của linh mục Cosma Hoàng Văn Đạt SJ :

“Vào thế kỷ XVII, bước chân nam tiến của dòng giống Lạc Hồng mới đến Đèo Cả. Phú Yên là tiền đồn phía nam của tổ quốc. Dinh Trấn lúc ấy đóng ở bờ sông Kỳ Lộ, gần cửa biển Tiên Châu. Hẳn là ông bà hoặc cha mẹ anh đến lập nghiệp tại vùng đất mới này, để nơi đây trở thành quê hương anh. Và Phú Yên trở thành tên anh”.[5]

Để nhận rõ vai trò quan trọng của “thế hệ Kitô hữu Anrê Phú Yên” trong việc xây dựng nền móng ban đầu cho Giáo Hội Việt nam, chúng ta hãy nghe cha Molinari, Cáo thỉnh viên trong hồ sơ phong Á Thánh cho Thầy Giảng Anrê Phú Yên, nhận xét :

Thực vậy, nếu để ý tới lịch sử sóng gió tại vùng địa lý này, một miền hồi thế kỷ XVII được gọi là Đàng Trong (Cocincina), người ta có thể hiểu tại sao khuôn mặt Thầy Anrê đã và vẫn còn là điểm tham chiếu có giá trị quan trọng : thực vậy, Kitô giáo được phổ biến rộng rãi, ăn rễ sâu và tiếp tục sinh động tại Việt Nam chính là nhờ công lao và hoạt động của bao nhiêu thế hệ thầy giảng, nối tiếp nhau qua các thế kỷ, trong việc phụng vụ Chúa Kitô và Tin Mng, cả khi các thừa sai bị trục xuất và các linh mục bản xứ không thể thi hành sứ vụ vì những luật bách hại đạo.[6]

Trong công cuộc xây dựng nền tảng ban đầu cho Giáo Hội Việt Nam, không phải Anrê Phú Yên được đánh giá “quan trọng” vì có liên hệ với những người quan trọng như Cha Đắc Lộ, hay vì Ngài có một vị trí cao trọng nào đó thuộc hàng “chức sắc” của Giáo Hội. Hoàn toàn không phải thế. Cái cao trọng và độc đáo của Anrê đó chính là “Ngài thuộc đẳng cấp thấp”, là những kẻ thấp cổ bé miệng, là những “bà góa với những đồng xu nghèo”, là giáo dân.

Linh mục Roland Jacques OMI, chuyên viên sử học trong Ủy Ban Sử Học của HĐGMVN về vụ án phong Á Thánh cho Thầy giảng Anrê đã có những nhận xét chí lý :

“Khi nói đến lịch sử khởi công xây dựng Giáo Hội tại Việt Nam, người ta có thói quen đưa ra một vài nhân vật lịch sử lớn, đặc biệt là nhân vật Đắc Lộ. Điều nầy không có gì cần phải cải chính. Nhưng lịch sử của Anrê còn chứng tỏ rằng Giáo Hội cũng đã được xây đắp nhờ vào những nỗ lực của số đông giáo dân Việt Nam thuộc những thế hệ đầu tiên. Ở vào thời của Anrê, thừa sai chỉ thỉnh thoảng mới có thể đến, và không thể sống thường xuyên ở trong nước. Chính vì lý do nầy mà những thầy giảng phải lên phiên thay thế họ. Anrê là tiêu biểu cho tất cả những thừa sai Việt Nam vô danh nầy, là những anh hùng trong cuộc sống trước khi tỏ ra anh hùng trong khi chết. Người ta không thể không nghĩ rằng chính họ là những thừa sai thực sự, vì chỉ có họ mới đủ sức bảo đảm cho sự liên tục và sự tiến triển của cộng đồng công giáo. Thử hỏi tình trạng nầy không phải giống như tình trạng ngày nay tại nhiều nơi mà sự lui tới của linh mục bị hạn chế đó sao?[7]

Thuộc về thế hệ Kitô hữu xây dựng nền móng ban đầu cho Giáo Hội Việt Nam, chắc chắn Anrê Phú Yên cùng với bao bạn hữu Công Giáo khác đã cảm nghiệm sâu sắc và được đốc thúc mạnh mẽ về trách nhiệm loan báo Tin mừng, xây dựng Hội Thánh địa phương, một Hội Thánh quá ư non trẻ khi phải đối diện với một nền văn hóa Khổng, Phật, Lão đã bén rễ lâu đời trên mãnh đất Việt Nam thuở ấy. Chính Đức Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, Vị Giáo Hoàng tuyên phong Thầy Giảng Anrê lên bậc Á Thánh vào dịp đại năm Thánh 2000, đã nhận rõ khía cạnh nầy trong bài giảng ngày lễ phong thánh, nhất là trong bài huấn dụ sau đó khi Ngài tiếp phái đoàn Giám Mục Việt Nam :

Giữa những khó khăn các tín hữu Chúa Kitô phải hứng chịu, ngài đã là một nhân chứng trung kiên của Chúa Phục Sinh vì Ngài đã không ngừng loan truyền Tin Mừng cho anh em ngài trong hội thầy giảng “Nhà Chúa”. Vì tình yêu đối với Chúa, Ngài đã dùng sức lực để phục vụ Giáo Hội qua việc trợ lực cho các Linh mục trong sứ mệnh của họ. Ngài đã kiên trung đến dâng hiến máu đào để giữ nghĩa cùng Đấng mà Ngài đã dâng hiến tất cả. Những lời Ngài luôn lặp lại trên bước đường tiến đến nơi tử đạo là những lời đã hướng dẫn và soi sáng tất cả cuộc sống của Ngài: “ Chúng ta hãy lấy tình yêu đáp trả tình yêu của Chúa chúng ta, chúng ta hãy lấy mạng sống đáp trả mạng sống”.[8]

“Do vậy trên 350 năm qua, những người công giáo Việt Nam không bao giờ quên Nhân Chứng Tin Mừng này, Vị Tử Đạo tiên khởi của quê hương họ. Họ đã tìm thấy nơi ngài đức tin kiên định và tình yêu quảng đại cho Đức Kitô và cho Giáo Hội của Ngài. Chớ gì ngày nay họ còn tiếp tục khám phá ra trong tấm gương của một người con đất Việt sức mạnh hướng dẫn người tín hữu về ơn gọi người Kitô hữu, trong việc trung thành với Giáo Hội và quê hương họ. Chân phước Anrê Phú Yên, vì sự nhiệt thành nồng cháy của ngài mà phúc âm được rao truyền, được ăn rễ sâu và được phát triển”[9]

Địa vị “Chứng Nhân Tiên khởi” của Giáo Hội Việt Nam được dành cho Anrê Phú Yên thật là “phải đạo và chính đáng”, chắc chắn không chỉ vì Ngài là người đầu tiên của xứ Đàng Trong “cầm cành lá vạn tuế”, nhưng còn vì “Lời chứng” của Ngài mang dấu ấn tiên phong trong bước đường hội nhập văn hóa, đã diễn ra trong một bối cảnh xã hội và Giáo Hội Việt Nam ổn định và giản đơn, hòa ái và trong sáng, khác xa với bối cảnh của hai thế kỷ tiếp sau, 18,19. Chính Cha Roland Jacques đã ghi nhận tính chất đặc biệt nầy :

Địa vị của vị “tử đạo tiên khởi” phải thuộc về Anrê, chết 129 năm trước thánh Liêm, với lòng can cường không kém. Hơn nữa, Anrê là một người con của đất nước , mang trong mình 100% nền văn hóa của đất nước; thầy là một giáo dân Công giáo. Vì thế, chắc hẳn Anrê là tiêu biểu trực tiếp cho khối đa số vô danh của những người Công giáo Việt Nam, nhất là những người thuộc những thế hệ đầu tiên, nhờ vào s khôn ngoan và tính kiên cường họ đã khám phá ra phương cách Việt Nam để sống đạo.

Đối chiếu với phần lớn các vị tử đạo được tôn phong năm 1988, Anrê biểu hiện một kinh nghiệm đặc sắc và có thể là sống động hơn cho ngày nay, do bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác biệt. Những thế hệ Công giáo tiên khởi được sinh ra trong bối cảnh của một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập đối với các thế lực phương Tây, không bao giờ Bồ Đào Nha, là nước đã gửi đi các nhà thừa sai, đã can thiệp vào công việc của Việt Nam bằng bất cứ cách nào, dù là bênh vực cho người Công giáo.

Những đồng bào không Công giáo, đại đa số đã tỏ ra hết sức ngưỡng mộ đối với chàng trai trẻ có lòng can đảm bất khuất nầy. Họ cảm nhận được nơi Anrê tình thương mà thầy đã mang đến cho tất cả những người đồng hương của thầy. Một sự việc mà những nhân chứng đã nói đến, và họ đã đáp lại tình thương đối với thầy. Đó là một sắc thái khá độc đáo trong cái chết của Anrê. Đến thế kỷ 18 và 19 thì các tình huống và tâm trạng đã biến chuyển.”[10]

Tuy nhiên, như chúng ta vẫn thường gặp thấy trong hiện thực lịch sử cứu rỗi được tỏ bày trong mặc khải Thánh Kinh : Thiên Chúa thường hay làm những chuyện “cắc cớ”. Để chọn một Tổ Phụ cho một dòng tộc “đông như sao trời như cát biển”, Ngài đã chọn cặp vợ chồng son Áp-ra-ham và Sa-ra ; để có một người lãnh đạo dân Ít-ra-en ra khỏi đất Ai cập, lãnh nhận Giao Ước và trở về Đất Hứa, Ngài đã chọn Mô-sê ngọng nghịu ; để xây dựng một vương quốc hùng mạnh làm dấu chỉ và chuẩn bị cho một Vương quốc vĩnh cửu trường tồn do Con Thiên Chúa thiết lập, Ngài đã chọn người con út của Giêsê, chàng thanh niên chăn cừu Đa-vít với “hậu duệ thuộc hệ ngoại tình của ông vua hào hoa phong nhả nầy”. Và, để cứu Ít-Ra-en khỏi những thế lực hung tàn Ngài đã dùng những bàn tay liễu yếu đào tơ như Debora, Esther ; để canh tân toàn bộ đời sống tôn giáo đã bị biến chất và sai lạc, Ngài đã dùng mỗi một ngôn sứ Ê-l-ia đơn thương độc mã đối đầu với cả một hệ thống chính trị và tôn giáo đương thời….và Ngài cũng không từ chối dùng cả một ông vua Cyrô ngoại giáo của Ba Tư để đưa dân Ít-ra-en trong kiếp lưu đầy nô lệ trở về tái tái thiết lại quê hương và phục hồi đời sống tôn giáo.

Và cũng “y chang” như thế, khi lịch sử cứu rỗi “sang trang”, bước vào giai đoạn của “thời viên mãn”. “Ở Nadarét có gì quan trọng lắm đâu” mà phải đề cao và tin tưởng rằng nơi đây lại xuất hiện Đấng Cứu Thế ? (Ga 1,46). Thầy Giêsu nào chẳng phải là “con bác thợ đấy sao ?” (Mt 13,55-56). Và Vị Vua Cứu Thế đã bao đời nhân loại ngóng trông đã giáng sinh âm thầm nơi hang lừa máng cỏ, đã âm thầm sống ẩn dật trong mái nhà ở làng quê Na-da-rét 30 năm, đã lang thang trên những nẻo đường cát bụi xứ Pa-les-ti-na để công bố một Tin Mừng xem ra nghịch lý : “Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó, những kẻ hiền lành, những người bị bách hại…” (Mt 5, 3-12) ; và oái ăm hơn nữa là Vị Vua Cứu Thế đó đã chính thức đăng quang vào cái “Giờ” mà khắp nhân loại đều lắc đầu chối bỏ : Giờ của tử hình thập giá, giờ của kết án nhục hình, giờ của đánh đòn và mảo gai, giờ của khinh khi nhục mạ…Vâng, chúng ta chỉ có thể hiểu được chân lý nầy khi đồng cảm với những nhận xét của thánh Phaolô : “Trong khi người Do thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự kông ngoan của Thiên Chúa.” (1 Cr 1,22-23).

Và cái “nghịch lý của Tin Mừng” đó cứ lặp đi lặp lại trong lịch sử của Dân Chúa mọi nơi mọi thời, cho dù lịch sử ấy được viết ở Palestine với Hêrôđê, ở Rôma với bạo chúa Nêrô, ở Liên sô với Stalin, ở Trung hoa lục địa với Mao Trạch Đông, ở Việt nam với những người như “Ông Nghè Bộ” thời Anrê Phú Yên, hay các vị vua triều Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu trị, Tự Đức…Phải chăng, chính nhờ những cuộc thử thách được tính bằng “giá máu’ ấy mà trên bầu trời của vương quốc Nước Trời vẫn luôn “rực sáng những vì sao”. Anrê Phú yên chính là một trong những “VÌ SAO RỰC SÁNG” ấy, một vì sao mà sự xuất hiện của nó đã tỏa sáng như một dòng hợp lưu của những dòng sông, của những con đường đang tiến về phía trước : con đường của dòng người vượt thác băng ngàn ra đi mở cõi cho giang sơn Đất Việt khang trang hơn, bát ngát hơn, và con đường của những “bước chân anh hùng quảng đại” vượt qua bao thử thách gian truân để thắp lên ánh lửa Tin Mừng cứu độ.

Như thế, chúng ta có thể kết luận mà không sợ cường điệu quá mức khi cho rằng : trong lịch sử dựng nước của cha ông vào thế kỷ 17 và trong bối cảnh thuở ban đầu gieo hạt giống Tin Mừng tại Việt Nam, Anrê Phú Yên chính là cuộc gặp gỡ của hai “Con đường mở cõi”.

 

LM. Giuse Trương Đình Hiền

Kỷ niệm 6 năm ngày Thầy Giảng Anrê Phú Yên được phong Á Thánh

05.03.2000 – 05.03.2006

[1] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu Địa Bạ Triều Nguyễn-Phú Yên, tg. 61

[2] Theo địa chí Phú Yên lấy từ trang web http://www.phuyen.gov.vn/

[3] LM Vũ Thành, Dòng Máu Anh Hùng

[4] Phạm đình Khiêm ,Người Chứng Thú Nhất, tg. 46

[5] Cosma Hoàng Văn Dạt SJ, Theo dấu chân Người

[6] Molinari SJ, Thầy giảng Anrê, vị Tử đạo đầu tiên của việt nam, LM Giuse Trần Đức Anh OP chuyển ý.

[7] Roland Jacques OMI, Anrê Phú Yên và Giáo hội Việt nam, Hà Huyền Tâm chuyển ngữ

[8] ĐGH G.P II, Bài giảng trong thánh lễ phong Chân phước tại quảng trường thánh Phêrô ngày 05.03.2000

[9] ĐGH G.P II, Bài Huấn dụ trong cuộc tiếp kiến sau đại lễ phong chân phước, 06.03.2000.

[10] Roland Jacques, tài liệu đã dẫn

 

This entry was posted in Nhóm Phú Yên. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s